Những dòng tâm sự với học sinh Trí Đức

       Các em học sinh Trí Đức yêu quý! Như Thầy vẫn thường thú nhận với các em là Thầy rất muốn và rất thích có những dịp nói chuyện, tâm sự với các em bởi các em là tình yêu của Thầy, là nguồn vui ấm áp, nguồn cảm hứng mạnh mẽ không bao giờ hết đối với Thầy. Trong tâm tưởng từ sâu thẳm Thầy muốn truyền cho các em tình yêu cuộc sống, muốn làm lây lan sang các em sự đam mê công việc và lòng hăng say học tập, muốn tiêm nhiễm cho các em khát vọng vươn tới, vươn lên phía trước và muốn chia sẻ đến mỗi em kinh nghiệm cuộc sống của mình. Nghĩa là Thầy rất nhiều tham vọng, có tham vọng đến cháy bỏng muốn thổi bùng lên ngọn lửa tình yêu cuộc sống đích thực trong mỗi em, muốn trang bị cho các em những hành trang quý giá, quan trọng nhất để vào đời, muốn các em cải hoá mình từ tâm hồn non dại còn nhiều lệch lạc và khiếm khuyết trở nên đẹp đẽ và vững vàng. Để làm được điều đó phải bắt nguồn từ việc giúp các em định hướng được những suy nghĩ, những tình cảm cho… khai thông tư tưởng cho các em. Thầy rất thấu hiểu, thấu hiểu đến tận quyền năng vô hạn của tư tưởng, Thầy đã chứng kiến sức mạnh huyền diệu của tư tưởng, nó mạnh đến mức có thể nhầm với sức mạnh của thánh thần.

Nói đến tư tưởng là nói đến sức mạnh tuyệt vời và mầu nhiệm của nó. Nhưng lại rất cụ thể giản đơn ai cũng có thể hiểu bởi đó chính là logic hiển nhiên như là một chân lý của cuộc sống: Gieo một tư tưởng gặt một hành động, gieo một hành động gặt một thói quen, gieo một thói quen gặt một tính cách, gieo một tính cách gặt một số phận. Các em thấy đấy, từ suy nghĩ, từ tư tưởng đã dẫn đến số phận của mỗi chúng ta. Sức mạnh thần kỳ vô biên ấy cũng như sự thành công của mỗi cuộc đời tiềm ẩn trong mỗi chúng ta, ai cũng có thể đạt được. Vấn đề là ta có thật sự muốn đạt được nó hay không, có trung thành theo đuổi nó hay không? Cuộc đời Thầy là chuỗi những tháng ngày luôn vận dụng cái logic đó và chính nó đã dẫn dắt Thầy tới những thành công. Vì thế đã làm thay đổi hẳn số phận cuộc đời Thầy.

          Giờ đây Thầy muốn đem tất cả những gì mình có, trước hết và đáng giá nhất là những kinh nghiệm sống để truyền lại cho các em – những học trò yêu quý của Thầy với hy vọng: các em cũng sẽ làm chủ được tư tưởng, làm chủ được bản thân để rồi cũng tạo dựng được số phận tốt đẹp trong tương lai cho chính bản thân các em.

          Trước hết Thầy sẽ nói về điều Thầy tâm đắc nhất, nó đã thổi vào trái tim Thầy tình yêu mãnh liệt đối với cuộc sống cùng với sự đam mê công việc và say sưa học tập. Nó mang đến cho Thầy những nghị lực cùng với sức mạnh lớn lao để vượt qua mọi khó khăn. Có thể nói đó là chìa khoá mở cửa cho Thầy bước vào cuộc sống đầy ý nghĩa, làm thay đổ hẳn số phận của Thầy.

          Các em hãy xem “chìa khoá vàng vạn năng” đó là gì nhé!

          Suốt cuộc đời học sinh của Thầy hầu như không bao giờ được ăn no, cho dù đó chỉ là khoai, là sắn

          Riêng những ngày tết chả biết có được no không nhưng vì cái cảm giác đói triền miên đã làm Thầy lu mờ những ngày đó. Khi bước chân vào đại học Thầy mới biết đến đôi dép lốp cao su và bắt đầu được mặc quần âu (trắng) có hai túi hai bên. Còn suốt thời học phổ thông hầu như lúc nào cũng chỉ một bộ quần áo dài để mặc đi  học, lúc ở nhà hoặc đi làm thì diện quần đùi áo vá. Bộ quần áo đi học là quần nâu ống xơ, trên đường đi học mặc quần đùi khoác quần áo dài ở cổ. Và hầu như không có dấu ấn gì về cái cảm giác được mặc áo quần mới ngày tết, mặc dù đó không phải là điều hồi nhỏ thầy không thích. Kể từ khi thầy biết cắp sách tới trường cũng là bắt đầu tham gia lao động giúp đỡ gia đình. Thầy đã tìm cách học mót làm mọi việc của nhà nông để cùng mẹ và các chị duy trì cuộc sống gia đình. Các em có biết “học mót” là như thế nào không? Là nhìn người ta làm hoặc… rồi bắt chước. Khi trước nhà Thầy vào loại khá giả và gia giáo ở trong làng. Ông nội Thầy làm nghề dạy học, ngày xưa gọi là ông đồ nho. Gia đình đương êm ấm, bỗng dưng nhà bị bom thành ao, bố bị giặc Pháp bắn chết khi Thầy mới được 7 tháng tuổi trong bụng mẹ. Lúc đó cậu của Thầy đã rời 2 gian nhà bếp của cậu để làm nhà cho nhà Thầy. Ông nội do buồn phiền quá mà lâm bệnh rồi mất. Trước tình cảnh đó anh trai cả của Thầy phải bỏ học để xung phong đi bộ đội. Còn lại năm mẹ con chỉ mình Thầy là trai và là út. Mẹ thầy khi xưa hầu như không phải lo toan gì đến việc đồng áng, chỉ làm nội trợ và nuôi con. Nay nhà cửa tan nát, một nách 5 con lại phải gánh vác mọi việc, quả là quá sức với bà.

          Từ khi học lên lớp 5, lúc đó Thầy 13 tuổi…Thầy mới nhận thức được là ở nhà không có chỗ ngủ phù hợp cho mình vì cả nhà chỉ có một cái giường đôi. Thế là từ đó đến tận khi tốt nghiệp đại học không bao giờ Thầy ngủ ở nhà mà đi ngủ nhờ nhà các bạn cùng lớp trong làng.

          Ba năm học cấp III tại trường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo – Hải Phong). Hồi đó đang còn chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ nên các lớp học phải làm cách xa nhau, cả trường có 10 phòng học thì trải trên 3 xã, mỗi làng chỉ có 1 đến 2 phòng học và làm thì nửa chìm nửa nổi. Các em tưởng tượng phòng học của lớp nào do học sinh và phụ huynh của lớp đó tự làm, đào sâu xuống khoảng 50cm lấy đất lấp tường thật dầy như đê bao quanh lớp để tránh mảnh bom Mỹ. Từ nhà đến lớp, năm nào được học gần là 10km, năm phải học xa hơn thì 12km! Hầu hết học sinh phải đi bộ. Vì ngủ nhờ nhà bạn, rất ngại phải từ chối khi bạn mời ăn sáng nên Thầy thường dậy trước và nói dối là quên cái gì đó ở nhà phải về lấy rồi ăn sáng luôn. Thực tình có quên gì đâu, chỉ có mấy quyển vở với cái bút luôn để trong túi nilon tự khâu bằng mảnh vải mưa cũ, vải mưa quá cũ rách … trên đường đi học về thầy dự kiến nếu tối hôm đó định ngủ ở nhà bạn nào thì nhờ bạn cầm về hộ luôn. Các thứ như sách giáo khoa, giầy dép, khăn mỹ, áo mưa đều không có, lấy gì mà quên kia chứ. Còn về ăn sáng ư? Thực tình Thầy nói dối thế cho “sang” và để bạn đỡ ái ngại cho mình là nhịn đói đi học. Để khỏi lộ việc nói dối Thầy phải luân phiên chỉ ngủ nhờ mỗi bạn một đến hai tối không ngủ nhà ai liên tục cả. Cả làng có 7 đứa học cùng lớp lại toàn con trai nên cũng dễ dàng cho việc ngủ nhờ và Thầy thường ngủ ở nhà bạn con nhà nghèo nhiều hơn. Nói một cách chính xác thì hồi đầu năm lớp 8 (tương đương lớp 10 bây giờ) khi mới đi học xa, mẹ thầy thương con đi xa về muộn mà tối đã phải làm việc gần khuya mới được sang nhà bạn học bài nên đã nướng trộm chị dâu cho Thầy hôm thì củ sắn, hôm củ khoai. Sáng sớm, ở nhà bạn về như thường lệ, Thầy dùng que đun bếp (ngày đó còn đun bếp bằng rơm rạ) chọc chọc vào đống tro bên sườn nồi cám lợn để bới củ ra ăn. Hôm nào mà chọc mãi vẫn cứ thấy mềm “xụt”, “xụt” không vướng gì nghĩa là hôm đó mẹ quên hoặc vì lí do nào đó không nướng được củ. Thầy vẫn vui vể nhịn đói đến trường. Lần ấy, Thầy đang ăn củ trong bếp tối như ăn vụng, bất chợt một ý nghĩ thoảng qua: “để nướng được củ cho mình chắc mẹ phải dậy từ 2 giờ sáng. Thế thì còn ngủ vào lúc nào? Và vì mẹ thương mình nên mẹ đã phải làm một việc vụng trộm với chị dâu, nhỡ chị biết thì sao? Vả lại chị cũng phải nhịn đói đi làm cơ mà.” Thế là hai hàng nước mắt trào ra, Thầy nghẹn cứng cả cổ không sao nuốt được nữa. Thầy đã bóp nát phần củ còn lại trộn đều vào nồi cám lợn rồi đi học. Hôm sau về, Thầy thưa thật với mẹ những suy nghĩ của mình và xin mẹ đừng phải lo cho con quá. Mẹ Thầy đã khóc, chỉ lặng im không nói gì cả. Thầy hiểu lòng mẹ: phần thì lo cho con trai lớn (anh cả của Thầy) ở chiến trường không biết sống chết thế nào, ở nhà có mấy mẹ con phải đùm bọc nhau không lỡ cho con dâu ăn riêng. Mà không cho con dâu ăn riêng thì không ưu tiên được cho con trai út, đứa con đã mồ côi bố từ trong bụng, khi lọt lòng lại phải chịu cảnh nhà tan cửa nát. Mẹ thấy mà bất lực.

          Cho đến tận bây giờ Thầy vẫn không thể nào quên được cái cảnh những đêm đông trăng suông trời lờ mờ tưởng đã gần sáng, một mình đi bộ đến trường. Tới nơi chưa có một bóng người lại ngồi ôm gối tự tái hiện bài chờ sáng. Khi tan học gần 12h trưa, ra khỏi lớp trời mưa phùn gió bấc, bụng đói, đầu trần, chân đất lê bước về nhà. Ăn lá xu hào luộc trước gần đầy bụng, cuối bữa mới lưng cơm nguội. Nói là cơm nhưng các thứ độn nhiều hơn cơm đến nỗi muốn dính cái gì thì hạt cơm không còn nhựa nữa. Trong các thứ độn, tệ nhất là khoai nước ngứa, ăn xong muốn dùng lược sắt mà chải lưỡi. Xong bữa là vội vàng đi làm ngay. Lúc đó còn hợp tác xã nông nghiệp, người ta chấm công thông qua việc cho điểm. Rồi cứ 10 điểm là một công. Những vụ lúa tốt được mùa, mỗi công được 2 đến 3 lạng thóc. Vụ nào mất mùa thì không nổi 1 lạng. Vì Thầy đi học về rất muộn, ăn xong đã gần giữa buổi chiều nên hầu như không khi nào đi làm cùng mọi người mà lủi thủi đi làm một mình. Và cũng vì vậy mà những việc dễ dàng nhiều điểm đều không đến lượt. Thầy thường phải nhận những việc khó khăn thậm chí cả việc bẩn thỉu rồi làm dần trong vài ngày cả những buổi tối. Tối nào không có việc của hợp tác xã thì đi kiếm cá tôm, thôi thì đủ nghề: úp lơm, đánh dậm, kéo vó, câu, thả lưới, cả ngụp lặn tay không vẫn bắt được cá. Vì thế mọi người gọi Thầy là “con rái cá”. Thời gian nào hợp tác xã ít việc thì một buổi đi học còn một buổi đi hót phân trâu bán cho Hợp tác xã để bón lúa. Những ngày chủ nhật vào thời gian hè. Đồng nhà có nhiều người đi hót không còn phân nữa thì phải đi đồng xa cách nhà từ 6-8km. Lúc đầu do chưa có kinh nghiệm, Thầy cứ lấy phân tươi như ở đồng nhà và đầy gánh là về ngay nên mỗi buổi tối chỉ có một chuyến. Sau Thầy có sáng kiến lấy phân khô để có thể xếp đầy tới nóc quang mà vẫn nhẹ đồng thời không gánh về ngay mà tìm 1,2 địa điểm ở khu vực giữa đường cách nhà 3-4km có những bụi dứa dại rậm rạp rồi chất đống dấu vào đó. Như vậy một buổi Thầy có thể đi nhanh, 2 chuyến đầu dấu vào đó còn chuyến thứ ba mới gánh về nhà. Sau đó hôm nào ít thì giờ hoặc thời tiết xấu tranh thủ đến đó chuyển dần về. Một gánh phân khô cho vào nước nó trương lên phải tương đương với 3 gánh phân tươi. Ngoài ra Thầy còn phát hiện một đặc điểm của trâu là đang ở trên cạn hễ cho lội xuống nước là “ị” nên khi bí quá cũng phải dở cái võ đó để hoàn thành nhiệm vụ.

          Tuy nghèo khó lam lũ là thế nhưng hầu như không lúc nào Thầy thấy mình khổ, không lúc nào thấy buồn phiền mà luôn thích thú, hăm hở với công việc, rất yêu đời yêu cuộc sống, nghĩa là Thầy rất yêu bản thân mình. Không cố một đồng xu dính túi nhưng lúc nào Thầy cũng rất giàu những ước mơ. Kể cả lúc mồ hôi nhễ nhại, bụng đói, ngửa cổ, còng lưng kéo bừa thay trâu làm thuê cho nhà hàng xóm lấy mấy hào tích góp để mua sách vở, trong khi đó con nhà họ cùng tuổi với mình to lớn hơn lại chơi thả diều ngay đầu bờ và còn trêu tức mình nữa. Những lúc đó Thầy đã im lặng cắn răng tạm chấp nhận và chỉ ước rằng nếu ông trời không hại mình, cho mình sức khoẻ và trí tuệ để vừa làm việc vừa học vượt qua được những năm tháng khó khăn này thì chắc chắn về sau mình sẽ thay đổi được thân phận, thay đổi được cuộc đời. Và Thầy vẫn hình dung được con đường đi lên của mình: đén lúc đó mình sẽ khá giả sang trọng từ thành phố về gặp lại người bạn thả diều trêu mình năm xưa đang ngửa cổ oằn lưng vác đất đóng gạch hoặc đang quần đùi nón mê chạy lôi theo đàn vịt. Càng nghĩ thế Thầy càng yêu mình hơn muốn bằng mọi cách phải làm cho mình thành công, cho cái tên mình phải đẹp phải danh giá trong mắt mọi người. Thầy còn nhớ hồi nhỏ Thầy khá nhiều bệnh tật như cam thổ mã, viêm mũi, hen và rất hay chảy máu cam nhất là về mùa hè vào những ngày lao động mệt. lại có lần vào đầu năm lớp 9 không hiểu vì sao Thầy đau bụng đi ngoài đến hơn 10 ngày không khỏi vì không có thuốc, người mệt lả vẫn đi làm mọi việc. Đến khi mệt quá Thầy mới cho mẹ biết, mẹ Thầy hốt hoảng cuống cuồng vừa khóc vừa đi vay tiền mua thuốc. Lần ấy Thầy rất ân hận vì đã làm mẹ rất lo, Thầy đã xin lỗi mẹ. Nhưng Thầy vẫn nghĩ mình phải cố gắng tự giải quyết lấy, tự chịu đựng mọi vất vả khó khăn đỡ cho mẹ tí nào hay tí ấy để mẹ đỡ buồn đỡ khổ. Mặt khác mỗi khi đau ốm, những lúc vất vả Thầy cứ tưởng tượng ra những viễn cảnh huy hoàng tốt đẹp đang chờ đón mình ở phía trước và cứ như văng vẳng có tiếng động viên mình “hãy cố lên sẽ vượt qua được đấy” thế là Thầy lại vui, khoẻ lên và vượt qua được khó khăn đó.

          Dẫu rằng vất vả khó khăn là thế, thiếu thốn đủ đường đặc biệt không có thì giờ để tự học lại bài nhưng chưa hề bao giờ Thầy có tư tưởng chán học, bỏ học. Thầy vẫn hình dung một thời gian không xa nữa mình sẽ là sinh viên đại học và sẽ học không thua kém các bạn con nhà giàu ở thành phố. Quả thật lúc đó Thầy thấy dường như mình có thể sẽ làm được mọi việc, sẽ có tất cả những gì mình đang ôm ấp và có thể bao trùm cả xã hội trong cánh tay mình. Đối với Thầy dường như là không có gì là không thể làm được. Dẫu rằng tại thời điểm đó Thầy chẳng có gì cả. Những cảm giác ấy giúp cho Thầy vượt lên mọi khó khăn trở ngại, quên đi mọi vất vả mệt nhọc, quên đói quên rét quên cả bệnh tật ốm đau, vui vẻ chấp nhận cảnh lam lũ nghèo khó hiện tại để nuôi chí lớn, hăng say lao động tự nuôi mình và duy trì học tập đến cùng, từng bước thực hiện ước mơ là phải vượt ra khỏi lũy tre làng, phải bằng trí tuệ thay đổi số phận, phải tạo dựng cho mình cuộc sống tốt đẹp đàng hoàng để đón mẹ đến ở với mình, lmf cho mẹ hết buồn hết khổ. Và thực tế Thầy đã vượt qua mọi khó khăn, đã học rất tốt.

          Như vậy sinh lực của tuổi trẻ rất quan trọng đối với Thầy, đã làm tràn ngập trái tim Thầy bằng những ước mơ. Vì thế không có gì có thể ngăn cản Thầy.

          Trong số những điều mà tuổi trẻ mang lại thì ước mơ là điều quan trọng nhất. Những người biết ước mơ thì không biết nghèo khó vì mỗi người đều giàu có như chính ước mơ của mình vậy. Những người có ước mơ đúng và trong sáng thì trí tuệ sẽ được khai mở và thông minh lên. Tuổi trẻ ước mơ rộng lớn như trời biển, dẫu các em chưa có gì trong tay, dẫu hôm nay các em học chưa giỏi thì cũng không có gì phải buồn phiền phải ganh tị nếu các em có được những ước mơ .

          Quả nhiên cầu được ước thấy. Từ ước mơ ban đầu cùng với sự nỗ lực cần mãn trong lao động à học tập đã tạo nên con người Thầy: từ một cậu bé mồ côi lam lũ vào hạng nhất làng đã đàng hoàng trở thành sinh viên đại như một truyện cổ tích . Hơn thế nữa, khi tốt nghiệp lớp 10 năm đó Thầy còn đuoẹc chọn vòa trong số 7 học sinh của trường cử đi học ở nước ngoài. Rất tiếc chỉ vì thấp bé nhẹ cân (lúc đó Thầy chỉ cao 1m45 và nặng 35kg) không đủ điều kiện sức khỏe nên phải học trong nước.

          Các em thấy không! Ước mơ là cái gì đó không nhìn thấy, không cầm nắm được nhưng nó điều khiển công việc, điều khiển hướng đi và tăng thêm sức mạnh cho ta. Ước mơ giống như bánh lái của con tàu. Bánh lái có thể rất nhỏ so với cả con tàu, nó ở dưới đáy tàu ta không nhìn thấy, ta cũng không phải mất nhiều sức lực để điều khiên nó nhưng nó đã điều khiển hướng đi của cả con tàu. Cuộc đời không ước mơ chẳng khác nào con tàu không có lái và như vậy sẽ mất phương hướng, trôi dạt tự do, rồi khi trời đổi gió thì tàu lại đổi hướng theo gió không thể cập bến trúng đích. Thậm chí còn mắc kẹt trong đám rong biển hoặc đâm vào đá ngầm mà vỡ tan. Nhưng nếu con người có ước mơ sai trái cũng như con tàu có bánh lái rởm thì cũng nguy hiểm như là người không có ước mơ. Ước mơ đúng và trong sáng là phải hướng tới điều tốt đẹp, tới mục đích cao cả không vì những cám dỗ vật chất trước mắt của đời thường. Đồng thời nó phải thực tế chứ không viển vông hoang tưởng. Nếu các em có ước mơ, hy vọng rằng các em phải cso thì hãy nâng niu nó, chưm sóc nó vì nó là bánh lái sẽ quyết định hướng đi cho cuộc đời các em tới đích.

          Có thể nói mọi thành công thành đạt ở đời này đều thuộc về những người biết ước mơ và có ước mơ đúng. Thầy là người rất giàu ước mơ và luôn phát sinh những ước mơ mới, các em có biết hiện tại Thầy dang ước mơ điều gì không? Ai biết? Ai đoán được…

          Vấn đề thứ hai Thầy muốn san sẻ với các em – những học trò của mình một một kinh nghiệm sống, có thể nói là một triết lý sống rất quan trọng, nó cũng quyết định sự thành bại của công việc  thậm chí quyết định thành bại cả cuộc đời. Các em có biết Thầy định nói về vấn đề gì không? Bây giờ Thầy kể cho các em nghe một mẩu truyện trong số rất nhiều sự việc có tính chất tương tự mà Thầy đã trải qua.

Lúc bấy giờ là giữa tháng 10 (âm lịch) năm 1971 khi Thầy vừa bước vào đầu năm học thứ 3 ở khoa Hóa ĐHSP HN1. Thình lình ở quê nhà trong 1 đêm đông khi dậy làm gì đó mẹ Thầy bị ngã rồi qua đời (năm đó mẹ thầy mới 61 tuổi). Khi Thầy về, được mọi người kể lại rằng trước lúc tắt thở, bà luôn nhắc tới tên Thầy và nước mắt giàn giụa. Lúc đã tắt thở vẫn chưa nhắm mắt nổi vì quá yêu thương con út. Với bất cứ người con nào thì việc mẹ mất đều rất đau buồn, đều là sự mất mát vô cùng to lớn không gì có thể so sánh. Đối với Thầy cũng vậy nhưng không phải chỉ đau buồn mà còn đau khổ và sự mất mát đó nhân lên gấp bội. Lúc đó một cảm giác bao trùm, cái cảm giác chưa từng có trong Thầy là tự nhiên thấy mọi người, mọi vật  kể cả trước đó thân thuộc thì giờ đều xa lạ. Thấy mình chẳng còn gì nữa, thấy như lạc lõng bơ vơ giữa mênh mông cô quạnh. Mấy ngày liền hôm nào Thầy cũng ngồi lặng im bên cạnh mộ mẹ hàng buổi, suy nghĩ mông lung. Đặc biệt Thầy hình dung ra chặng đường khó khăn sắp tới mình phải vượt qua. Những ngày tết, ngày hè mình sẽ đi đâu về đâu, về với ai? Những lúc ốm đau, những khi hoạn nạn rồi nhiều biến cố lớn, những bước ngoặt lớn trong đời sẽ dựa vào đâu? Anh cả vẫn biệt tăm, các chị gái tha phương cầu thực mỗi người một xứ và đều rất khó khăn. Đúng là rơi vào cảnh thân cô thế cô không cửa không nhà, không cha không mẹ, biết là cậy ai? Thầy đang chìm lặng giữa dòng suy nghĩ ấy trong nỗi buồn đau vô tận đan xen một sự tủi thân, than thân trách phận: sao số mình lại vất vả khổ sở đến thế. Bỗng lạ thay! Như có 1 tia sáng lóe lên, bất giác Thầy thấy như là cảm nhận được lời động viên của mẹ rất thanh nhẹ: “con là người dũng cảm và lạc quan, không việc gì phải sợ khó sợ khổ. Hãy cố gắng tiếp tục học cho tốt. Con trưởng thành là báo hiếu với mẹ rồi, là mẹ rất vui.” Thế là Thầy tỉnh táo hẳn ra, thắp nốt mấy nén hương cho mẹ rồi về nhà. Thầy cố tìm xem có vật gì có thể giữ làm kỷ niệm về mẹ. Suốt buổi tối Thầy mới tìm được 1 chiếc khăn vuông đen mà mẹ vẫn đội. Thầy không giặt, gấp cẩn thận để muốn giữ lại cả hơi ấm của mẹ. Hôm sau Thầy lên trường ngay. Từ đó cuộc sống của Thầy trở nên khó khăn gấp bội. Nhưng dịp tết về hè, vì không có tiền đi tàu xe về quê nên Thầy đều xung phong ở lại bảo vệ trường. Vở viết thì hầu hết mua giấy đen không có dòng kẻ cho rẻ. Lúc nào có tập giấy trắng có dòng kẻ thì lần đầu viết bút chì sau tẩy đi mới viết bút mực và mỗi dòng kẻ viết 2 dòng chữ cho tiết kiệm. Những ngày chủ nhật Thầy thường dậy trước các bạn trốn đi rửa bát thuê cho mấy hàng phở gần đó lấy tiền. Khó khăn thiếu thốn như vậy nhưng không lúc nào Thầy bi quan bế tắc mà ngược lại luôn cảm thấy rất bình thường, luôn lạc quan và tin tưởng là mình sẽ tiếp tục học được, học tốt và chắc chắn sẽ học đến cùng. Lạ thay càng lạc quan tin tưởng vào khả năng của mình thì càng học tốt hơn, càng có nhiều bạn thân hơn và càng được nhiều người giúp đỡ hơn. Những năm tháng đó quả thật Thầy sống trong tình thương yêu đùm bọc của bạn bè là chính. Những tối thứ 7, ngày chủ nhật, ngày lễ nếu không đi làm thuê, Thầy thường rủ các bạn ra đồng kiếm tôm cá, bắt lươn ếch bán lấy tiền chia nhau, các bạn chỉ lấy ít còn dành cả cho Thầy. Một kỷ niệm nhỏ nhưng tuyệt đẹp làm cho Thầy rất cảm động không thể nào quên được là có một cô bạn xin bố 1 cái quần bộ đội đã cũ sờn gối, tự sửa hẹp lại và quay ngược 2 ống từ trước ra sau rồi đem cho thầy. Thầy rất thích đã mặc nó trong suốt 2 năm mới hỏng. Để đền đáp lại tình cảm của các bạn Thầy đã hết lòng giúp đỡ bạn bè trong học tập cũng như mọi việc có thể làm được. Hằng này cứ chiều chiều cơm nước xong Thầy gọi các bạn ra sân vận động ngồi quây quần vòng trong vòng ngoài rồi Thầy truy bài hoặc giải đáp thắc mặc cho các bạn. Những dịp ôn tập chuẩn bị thi, Thầy lao vào học rất nhanh trước các bạn khoảng xa sau đó tự tổng kết hệ thống lại rồi làm đề cương giúp các bạn ôn sao cho dễ nhất, ngắn nhất. Từ đó Thầy rất nổi tiếng vừa học tốt vừa giúp đỡ bạn cùng học tốt. Chính bài thơ “những ngôi sao buổi tối” và bài “học thi” là kỷ niệm đẹp của thời đó, cái thời mà tình bạn nó quyện vào công việc học tập, học như là một thú vui, học cho mình và học cho bạn là một hạnh phúc tuyệt vời. Cuối cùng Thầy cũng đã học xong đại học với kết quả rất cao được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của khoa Hóa ĐHSP 1 Hà Nội

Qua câu chuyện này các em đã có thể rút ra điều gì rồi !

Kinh nghiệm sống có thể xem như một triết lý sống đó là lạc quan vào kết quả vào thành công  của việc mình làm, là tự tin vào khả năng của chính mình. Càng khó khăn thì càng phải lạc quan và tin tưởng mới chiến thắng được khó khăn. Càng lạc quan và tin tưởng thì càng có nhiều sáng kiến và sức mạnh. Không sợ khó không sợ khổ biết chấp nhận và tìm nguồn vui thậm chí tự hào trong cái khó cái khổ để vươn lên vượt ra khỏi nó.

Các em hãy ghi nhớ: Trong suốt cuộc đời mình dù có gì xảy ra đi chăng nữa thì cũng không bao giờ để mất đi tình lạc quan và tự tin! Nó là chìa khóa mở mọi cánh cửa đi đến thắng lợi.

          Chúng ta đang nói tới lạc quan và tự tin là một trong những yếu tố quyết định của thành công. Thế ngược lại với lạc quan và thành công là gì? Đó là bi quan, tự ti và dấu dốt, chính nó là nguyên nhân gây thất bại, làm cho ta đã dốt cứ dốt mãi, đã xấu cứ xấu mãi. Nó là kẻ thù số một của lạc quan và tự tin, nó thường ẩn náu trong mỗi chúng ta. Ta cần thường xuyên kiểm tra loại bỏ nó ra khỏi bản thân thì lạc quan tin tưởng mới có chỗ đứng và phát triển được. Các em nên nhớ rằng cho dù hôm nay mình học còn tồi, nhiều điểm dưới trung bình, còn mắc khuyết điểm để thầy và các bạn phải phiền lòng. Mọi người nhìn mình dưới con mắt không thân thiện, cho mình là vật cản sự tiến bộ của tập thể. Từ hôm nay mình đã thay đổi, không vi phạm nội quy, không mắc khuyết điểm nữa, đã tập trung tư tưởng và tận dụng thì giờ để học làm cho kết quả học tập nhích lên. Lập tức cách nhìn nhận đánh giá của mọi người về em đó sẽ khác hẳn: Thân thiện hơn, không còn thành kiến, mọi người sẽ gần gũi vui vẻ và muốn giúp đỡ em hơn. Từ đó em lại càng phấn khởi, càng lạc quan tự tin, càng chăm học và càng tiến bộ nhanh hơn . Trong học tập có vấn đề gì chưa hiểu hoặc kiến thức cũ bị quên mà ta ngại không dám hỏi, sợ mọi người cho là mình dốt thế gọi là dấu dốt. Như vậy nó cứ tồn tại mãi, cứ dốt mãi. Rồi khi làm bài kiểm tra thì đành bó tay chịu điểm kém, cứ thế chồng chất thành ra người đó là một cái kho dốt. Thế có phải là dại là dốt không?  Dại ơi là dại! Có câu “Đừng xấu hổ khi không biết chỉ xấu hổ khi không học” cơ mà. Thế thì việc gì phải dấu dốt. Cái gì không hiểu, không biết, chỗ nào không hiểu không biết ta hỏi ngay. Hỏi bạn không được thì hỏi thầy, lúc này chưa hỏi được thì lúc khác, coi nó như cái gai trong người phải nhổ đi nếu không sẽ làm thối thịt. Dấu dốt chẳng khác nào dấu bệnh không chữa đến lúc bệnh nặng quá đành chết uổng.

          Các em phải nhận thấy rằng nếu hôm nay mình học chưa tốt trong khi mình chưa cố gắng hết sức mà ta đã cho là mình kém  hoặc mình có khuyết điểm nhưng chưa quyết tâm sửa đã cho là chẳng ai nhìn thấy sự tiến bộ của mình đâu mà sửa thì thật là đáng hổ thẹn,thật là hèn. Đó là sự phản bội lại chính bản thân mình.

          Ở  đời này không ai chỉ có tốt, chỉ có ưu đểm mà không có khuyết điểm. Điều quan trọng là nhìn thấy sai lầm khuyết điểm của mình, quyết tâm sửa nó và tin tưởng váo sự sửa chữa của mình thì sẽ tiến bộ. Đồng thời không ai không học mà có sự hiểu biết. Muốn hiểu biết nhiều thì phải học nhiều. Muốn giỏi lại phải học nhiều hơn. Muốn học có kết quả phải tự tin vào khả năng của mình, phải luôn cho rằng mình cũng sẽ đạt được những kết quả như mọi người.

          Một vấn đề hết sức quan trọng nó cũng quyết định sự thành công mọi công việc của chúng ta đó là mỗi khi làm việc gì đều phải xác định rõ mục tiêu của việc mình làm, từ đó làm chủ bản thân. Đây là một vấn đề hiển nhiên các em có thể thấy qua vô số những việc mà mình đã trải qua cũng như kiểm chứng qua công việc của người khác. Thầy xin nêu ra vài ví dụ để các em cùng tham khảo:

  1. Hồi nhỏ Thầy chơi khá thân và hay ngủ nhờ nhà một anh bạn học cùng lớp ở cùng xóm tên là Nguyễn Văn An. Lúc đó tuy Thầy không biết rõ lắm nhưng Thầy vẫn nhớ bố An là cán bộ to ở sở thương nghiệp Hà Nội. Cuộc sống của gia đình An rất đầy đủ vào hạng nhất trong làng. Hè nào An cũng được bố cho lên Hà Nội chơi hàng tháng. Khi về, An đã kể lại những cảnh sống và vui chơi của An ở Hà Nội mà Thầy có cảm giác như là đang nghe truyện cổ tich rất hấp dẫn và thèm khát một lần được như vậy. Quả thật từ khi lọt lòng mẹ đến tận khi học hết cấp II Thầy chưa hề được nhìn thấy một đoạn đường rải đá, một cái ô tô, một tòa nhà 2 tầng nên Thầy làm sao có thể hình dung được khi nghe An tả về cái cầu Long Biên? Như An nói nó không phải bằng gỗ mà toàn bằng sắt, những cột sắt to hơn cột đình làng, cầu dài từ đầu xã đến cuối xã, bắc qua những 2 con sông rất lớn lại bắc qua 1 làng nữa. Chiều ngang của cầu rất rộng, ở giữa là đường tàu hoả, hai bên là 2 đường ô tô chạy nối đuôi nhau rồi lại 2 đường cho người đi bộ nữa. Tầu hoả là cái gì mà dài những 1km? Thầy không sao hình dung được. Hồi ấy Thầy mới chỉ biết tầu bay là bay trên trời, tầu thuỷ là chạy ở sông, còn tầu hoả lại nói là tầu lửa chạy trên 2 thanh sắt thì đến chịu. Rồi An kể đến chuyện bố cho tiền đi xem xiếc, đi vườn bách thú, mua đồ chơi và ăn toàn những món mà Thầy chưa được nghe bao giờ. Thế rồi có một lần trong giờ kiểm tra toán vì An “quay” được bài của Thầy nên tối về An cho Thầy một lọ mực Păcke của Pháp rất đẹp. Hôm sau Thầy mang về khoe với mẹ. Mẹ Thầy tỏ ra buồn và khuyên đem trả lại cho bạn. Rồi mẹ kể lại cho nghe trước đây bố bạn An đã phấn đấu học tập như thế nào để được như ngày hôm hay và mẹ động viên hay quyết tâm học thật tốt, thế nào cũng sẽ có ngày con được lên Hà Nôi học. Thế là mục tiêu lên Hà Nội học đã trỗi dậy trong Thầy, nó trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc Thầy vượt khó để học tập. Ngược lại An thì càng ngày càng lười học, ham chơi ham hưởng thụ. An lại cao to đẹp trai, rất hay “để ý” đến các bạn gái. Sang lớp 9 An bỏ học đi trung cấp thương nghiệp. Rồi không hiểu sao chưa học xong An lại bỏ và đi thanh niên xung phong. Từ đó Thầy không liên lạc được với An. Mãi đến tận năm 1979 hai đứa mới gặp nhau. Từ đó An ở nhà lấy vợ, lấy vợ rồi vừa làm ruộng vừa chạy chợ. Một năm sau cả nhà An dọn lên Hà Nội ở với bố, nghe nói nhà rất đẹp tại phố Phùng Hưng. Thời gian trôi đi thật nhanh, mới đó thế mà đã hơn 20 năm. Cũng vào thời gian này năm ngoái Thầy được một người họ hàng cho biết hiện tại hoàn cảnh của gia đình An rất khó khăn, bố An ốm nặng sắp mất và chỗ ở thì chuyển về số 5 Hoả Lò Thầy vội vàng đến thăm. Tới nơi , thật bất ngờ, Thầy không thể tưởng tượng được gia cảnh của anh lại buồn và khó khăn đến thế. Trước cửa nhà anh không có vỉa hè, từ trong nhà bước ra là đường nhựa ngay, trong căn phòng khoảng gần 20m2 nền xi măng, góc trong bên trái kê cái giường một ông cụ (bố anh) đang nằm trong tình trạng liệt nửa người không nói được, không nhận ra người quen nữa vì bị xuất huyết não đã lâu. Góc đối diện trên chiếc giường 1m2 là bà cụ (mẹ anh) đang ôm một cháu bé khoảng 2 tuổi. Giữa nhà thì anh An đang xoay trần rửa xe máy, nước lênh láng cả nền nhà. Cạnh cửa là cậu thanh niên ngồi vắt vẻo trên chiếc đi-văng vừa phì phèo thuốc lá vừa lấy mũi chân chỉ chỗ nọ chỗ kia chiếc xe yêu cầu anh An rửa sạch hơn. Thầy vào đã được 5 phút anh An vẫn chưa nhận ra tưởng Thầy là khách rửa xe, anh nói “anh thông cảm chờ cho chút xíu”. Thầy đã kịp quan sát tất cả nên chủ động không muốn lỡ việc của anh và không muốn anh khó xử nên tạm chấp nhận sự nhầm chờ anh rửa xong và để 2 cậu thanh niên đi hẳn. Thầy kéo anh lại cùng ngồi xuống giường của bà và nói rất bình tĩnh “anh nhận ra tôi chưa? Ai nào?” Lúc đó anh An sững người reo lên “Ôi Hưng!” Hai anh em sung sướng ôm nhau rồi kể hết chuyện nọ chuyện kia thời ấu thơ ở quê. Thầy còn đang tránh chưa muốn tìm hiểu từ khi gia đình anh lên Hà Nội đến nay thế nào sợ anh buồn và mặc cảm thì anh đã nói “bây giờ tớ mới phục cậu sát đất. Tại sao hồi nhỏ ông vất vả thế, khổ thế mà vẫn vượt qua được tất cả, vẫn học tốt. Còn mình sướng từ trong trứng sướng ra cái gì cũng thuận lợi lại thành vô tích sự nên bây giờ mới chịu nghèo hèn thế này”. Thầy hỏi thế theo anh chốt lại là cái gì? Anh nói “theo mình có lẽ lúc đó ông xác định được mục tiêu là học để thay đổi cuộc sống từ nghèo khó vất vả thành sung sướng, còn mình thì đã sướng rồi nên chẳng cần gì nữa”. Thầy nói “có lẽ đúng”. Anh An tiếp “chính vì bài học của ông nên mình đã giáo dục cho thằng con bây giờ cháu cũng có được một số nết phần nào giống ông hồi bé tất nhiên còn lâu mới được như ông”. Thấy anh An nói rất chân tình và tự tin làm Thầy thật xúc động và sung sướng, Thầy reo lên “thế thì tuyệt! Thật là mừng cho anh, mừng cho ông bà và cho cháu” rồi ôm chặt lấy anh ấy. Hai anh em hàn huyên tới khuya Thầy mới về.
  2. Bây giờ Thầy kể cho các em nghe một chuyện khác: năm 1982 khi xưởng giấy của trường ĐHSP Hà Nội 1 đang đứng trước nguy cơ đóng cửa bởi công suất máy thì lớn (400 tấn/năm), số người khá đông: 66 người mà năng suất lại rất thấp chưa đạt 1/3 công suất. Ban giám hiệu đang rất đau đầu đã tìm mọi cách mà không sao vực lên được. Có ý kiến đề nghị trả xưởng giấy cho Bộ GD. Bộ GD thì phê bình trường mang tiếng là trung tâm khoa học lớn luôn kêu khó khăn về giấy, khó khăn về đời sống cán bộ trong khi Bộ đầu tư cho cơ sở sản xuất thuận lợi như vậy mà không biết phát huy thì quá yếu kém. Nhà trường đã thông báo phát động toàn trường kêu gọi các khoa các đơn vị và cá nhân hiến kế, giới thiệu người ra giúp trường. Qua một thời gian BGH nhận được khá nhiều bản thuyết minh của những người có khả năng đứng ra lãnh đạo xưởng giấy. Thầy cũng là một trong những người đó. Mọi người trình bày rất dài, yêu cầu nhà trường đáp ứng rất nhiều điều kiện, còn thầy chỉ đưa ra 2 vấn đề: một là được quyền chọn chỉ giữ 22 trong tổng 66 người . Hai là được chủ động trong sản xuất kinh doanh với cơ chế khoán gọn mỗi tháng nộp lãi bao nhiêu, dôi ra được bao nhiêu, không đạt mức lãi đó sẽ bị phạt. Đề án của thầy đưa ra được toàn trường ủng hộ và thầy vào “trận” ngay. Sau khi chọn lọc giữ lại 22 người và tiếp quản xưởng thầy bỏ ra 2 ngày sinh hoạt tư tưởng nội bộ. Thầy đã phân tích kĩ chỉ ra cho họ thấy thời gian qua là do yếu tố con người, do tư tưởng con người. Đó là mọi người cho rằng năng suất thấp,  chất lượng tồi, và lỗ vốn vẫn chẳng chết ai. Có làm tốt hơn cũng chẳng được gì. Họ chẳng có mục tiêu nào cần phấn đấu và chẳng việc gì phải phấn đấu cho mệt. Rồi thầy chỉ cho họ thấy bây giờ đã khác hoàn toàn, mỗi mẩu giấy sản phẩn gắn liền với mức lương với cuộc sống của họ. Thầy hướng dẫn cho họ cách tính toán cụ thể để họ tự hoạch toán chính xác,  biết được thu nhập của mình sau 1 ca máy chạy.  Họ có thể dự kiến trước tổng thu nhập (lương) trong 1 tháng nếu làm việc đều đặn và đáp ứng được những chỉ tiêu kỹ thuật của xưởng (cỡ gấp 10 lần lương cũ). Do đó ngay ngày đầu khí thế toàn xưởng đã tưng bừng náo nhiệt sục sôi quyết tâm. Từ hôm sau như chuyện lạ có thật cũng con người ấy, cũng máy ấy mà giờ đây mọi thứ đều khác 100%. Máy chạy liên tục 3 ca suốt ngày đêm lúc nào cũng ngon lành. Lương bình quân xấp xỉ 700đ/tháng, người cao nhất là 860đ (gấp 12 lần lương kỹ sư lúc đó). Xưởng lúc nào, ngày nào cũng như hội kể cả không phải ca sản xuất của mình họ vẫn ở lại xưởng tự tìm việc làm để chuẩn bị cho ca sau thật tốt hoặc làm vệ sinh trang trí xưởng, nghĩa là lúc nào cũng nhộn nhịp công việc. Sau ba tháng mọi việc tốt đẹp thầy giao trả lại cho trường. Trong buổi chia tay, cả xưởng không ai là không khóc vì lưu luyến và vui mừng vì sự thành công của xưởng, vì đời sống của công nhân được nâng lên rõ rệt.
  3. Ví dụ thứ 3 thầy xin nhắc lại vắn tắt về việc của KTX chúng ta: đầu năm học 2002-2003, lúc đầu thầy yêu cầu mỗi em chép 15 lần bản nội quy KTX trong 3 ngày đên sau đó cho phép có thể thay viết bằng học thuộc, nhưng chẳng thấy ai đăng ký học thuộc vì xem ra còn khó hơn chép. Vì muốn các em học thuộc sẽ tốt hơn nên thầy công bố nếu ai học thuộc sớm thầy thưởng cho ra ngoài. Ngay lập tức một loạt em lên đăng ký và một số em đã giành được phần thưởng.
  4. Thầy xin nêu một mẩu truyện nhỏ về thời niên thiếu của nhà phát minh sáng chế thiên tài Tôm-Êdixon. Có thể nhiều em đã biết: hồi nhỏ mặc dù thông minh học giỏi nhưng vì gia đình khó khăn nên Êdixon chỉ được học hết THCS rồi phải nghỉ để làm việc giúp gia đình. Êdixon có đặc điểm nội bật là rất hay tìm hiểu, việc gì cũng tự đặt câu hỏi rồi say sưa khám phá. Một hôm vào ban đêm mẹ Êdixon bị đau ruột thừa phải mổ gấp mà lúc đó lại không có điện. Cả nhà và các bác sỹ, y tá đang rất lo, rất sốt ruột không biết xoay sở cách nào. Thời gian chỉ còn tính từng phút, tính mạng bệnh nhân như nghìn cân treo trên sợi tóc. Đương lúc bế tắc đó Êdixon từ phòng bên chạy ra reo lên “A đây rồi, ánh sáng đây rồi!”, một tay cầm gương, một tay cầm nến chạy sang. Êdixon dùng gương phản chiếu ánh sáng từ các ngọn nến rọi vào vị trí cần mổ, thế là cuộc phẫu thuật lập tức được tiến hành và thành công. Mọi người sung sướng ôm lấy Êdixon. Có lẽ trong khoảnh khắc sát nút của sự bết tắc, nhìn thấy cái chết của mẹ đã cận kề, mục tiêu phải có ánh sáng để mổ mới cứu được mẹ khỏi tử thần đã thôi thúc Êdixon, đã khai mở tối đa trí tuệ Êdixon làm phát ra sáng kiến đó. Mặc dù sáng kiến không lớn nhưng kết quả, hiệu quả của nó lớn tới mức vượt quá sức tưởng tượng của mỗi chúng ta.

Qua một số vị dụ nêu trên các em có thể rút ra được điều gì?

Ta thấy sự khác biệt về tinh thần làm việc cũng như tinh thần học tập giữa 1 người đã xác định rõ mục đích, mục tiêu của công việc mình làm cũng như mục tiêu cụ thể của việc học tập đó là: Làm việc và học tập là để đạt được cái gì đó có lợi cho bản thân mình, để tôn vinh danh dự cho mình, chuẩn bị tạo dựng cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp cho mình. Từ đó có ý thức làm chủ, nghĩa là làm việc và học tập hoàn toàn tự giác, cần mẫn, không phải ai nhắc nhở, sai bảo. Tự mình biết cách sắp xếp thời gian sao cho hợp lí nhất. Và dù khó khăn vất vả đến đâu cũng không nản, không bỏ dở, luôn tìm thấy nguồn vui, niềm tin và ky vọng sẽ đạt kết quả trong học tập. Thậm chí càng khó khăn lại càng thích thú hăng say vì như thế sẽ có cơ hội để thử sức, có cơ hội được sáng tạo, được thể hiện khả năng, bản lĩnh của mình, tự khẳng đinh mình và cao hơn là thể hiện tài nghệ của mình. Nghĩa là người có ý thức đó không bị hoàn cảnh xấu lung lạc mà có ý chí tiến thủ, dám nghĩ và đầy quyết tâm, Còn người làm việc và học tập không có ý thức đó, theo ý thức của người làm hộ thì học cũng chẳng cho là thiết thực. Chưa ngồi nóng chỗ đã mệt mỏi đứng dậy, chưa suy nghĩ đã kêu khó, bỏ đấy chẳng cần tìm tòi và cũng chẳng tìm được cách học thế nào cho hợp lý để có kết quả cao.

Các em thấy đấy: qua ví dụ về xưởng giấy, ngay cả trường hợp cùng 1 con người khi làm việc với 2 tinh thần khác nhau thì kết quả cũng hoàn toàn khác nhau. Kết thúc là người làm việc và học tập với mục đích rã ràng, có ý thức làm chủ thì thành công, danh giá, có công ăn việc làm ổn định, có cuộc sống tốt đẹp, được mọi người tôn trọng và yêu quý. Còn người làm việc hay học tập không với tinh thần đó thì bênh, nghèo hèn và phụ thuộc.

Rõ ràng là tính mục đích, mục tiêu của công việc và ý thức làm chủ bản thân đã khai mở trí tuệ cho ta, đã truyền thêm sức mạnh cho ta trong việc và học tập. Không ai có thể sống hộ ta. Cuộc sống ta là tốt hay xấu tùy thuộc ở quyết tâm của ta. Bởi thế ta không thể giao phó nó cho ai được. Thầy hy vọng rằng các em không ngờ nghệch đến nỗi bỏ mất tinh thần làm chủ để cam chịu số phận tôi đòi. Hãy làm chủ của chính mình, là người chỉ huy của chính mình và giữ vững như vậy suốt cả cuộc đời. Hãy quyết taam học tập và rèn luyện tu dưỡng. Vận may chỉ thuộc về những người tự chủ và biết làm chủ bản thân!

Bây giờ Thầy trao đổi với các em sang một vấn đề khác, 1 kinh nghiệm khác trong cuộc sống, đó là: muốn thành công muốn phát triển hết khả năng của mình cần phải có ý thức tự lực tự cường hay gọi là tự lực cánh sinh, chống tư tưởng dựa dẫm trông chờ ỷ lại.

Chắc các em đã thấy những con chim non vừa mới ra ràng nó tập bay thế nào rồi chứ! Các em có nhận xét gì không? Trước hết nó rất ngoan ngoãn theo mẹ, nó rất chăm chỉ và tự lực bay từng phút. Nó tự lực đến mức không biết cả nguy hiểm, quên cả mệt mỏi và đau đớn mỗi khi va chạm lung tung vào cành cây, thậm chí rơi xuống đất, xuống nước. Nhưng nó đã được đền bù xứng đáng là cứng cáp và trưởng thành rất nhanh. Rồi khi vừa tự bay được nó đã tự lo cho cuộc sống độc lập của mình. Từ đó trở đi nó không bao giờ phải nhờ mẹ che trở, không nhờ mẹ kiếm thức ăn. Vả lại mẹ nó cũng không làm nổi việc đó nữa. Mà cho dù mẹ nó có làm được thì chắc rằng nó cũng chẳng thích. Còn nói đến những con chim cảnh đang sống rất nhàn hạ trong những chiếc lồng xinh đẹp kia, nó chẳng phải lo tìm kiếm thức ăn, không bị lạnh lẽo không phải đối mặt với hiểm nguy. Nhưng chẳng có gì đáng thích tthú đối với một con chim như vậy. Một con chim ngoài trời phải tự kiếm cái ăn, tự xây tổ và tự mình chống trả lại những con chim ăn thịt nhưng nó lại được tung bay trên đôi cánh của mình tới mọi miền mà nó thích trong bầu trời sáng đẹp mênh mông. Nó sung sướng hơn với sự tự do và phiêu lưu của mình, nó được mở mang tầm nhìn và được sống chung với muôn loài vật khác, nó tự cảm nhận được sự hạnh phúc tuyệt vời khác hẳn so với con chim trong lồng vốn chẳng có gì ngoài tiện nghi.

          Hoặc các em có đẻ ý những con bê mới tập đi nó như thế nào không? Và chúng ta có thể học được gì ở nó? Nó cũng giống như con chim non đấy!

          Rồi các em hãy liên hệ đến những việc như tập bơi, tập đi xe đạp … chúng ta có thể rút ra được gì?…

Đối với cuộc sống của con người cũng vậy! Như các thầy đã từng thấy, cuộc sống quanh ta thật đa dạng và phong phú, muôn màu muôn vẻ song vấn đề cốt lõi nhất đối với cuộc sống của mỗi người là công ăn việc làm. Việc làm thế nào nó sẽ quyết định thu nhập thế ấy. Mà thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng quyết định cuộc sống của mooic người. Chúng ta thấy hiển nhiên là muốn có việc làm tốt để có thu nhập cao thì phải có trình độ chuyên môn cao cùng với những năng lực làm việc thật sự. Mà trình độ chuyên môn cao và những năng lực làm việc thực sự không thể dùng tiền mà mua được, không thể bằng con đường thừa kế mà có, càng không thể bằng cách vay mượn nhờ vả xin nhau được. Nó chỉ có thể có được bằng cách duy nhất là phải khổ công học hành và rèn luyện bản thân. Mà bí quyết quan trọng nhất đảm bảo cho học tập rèn luyện thành công là phải phát huy tối đa khả năng tự lực của mình nghĩa là trước mọi vấn đề phải đào sâu suy nghĩ tự đặt ra những câu hỏi rồi tự trả lời, tự lập lấy cách giải quyết sao cho tốt nhất không cần trông chờ vào sự giúp đỡ. Khi gặp khó khăn vướng mắc thì trăn trở tìm mọi cách khắc phục, coi đó là một sự thích thú. Việc này chỉ đúng khi học không có thầy mà nó còn luôn đúng trong mọi trường hợp kể cả khi học trên lớp có thầy dạy. Bởi lẽ đặc thù của việc học, việc nạp kiến thức vào đầu phải là quá trình suy nghĩ nhào nặn bộ óc trong đầu ta, không có gì có thế thay thế. Cần nhấn mạnh là không gì có thể thay thế được! Thầy giáo dù có tài giỏi đến đâu cũng không nạp kiến thức vào đầu ta được nếu ta không chịu động não suy nghĩ. Ngoài ra cuộc sống luôn luôn và liên tục có sự biến đổi và cạnh tranh. Sự cạnh tranh diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi linh vực,với mọi người và ngày càng khốc liệt. Đó là quy luật của sự sống, là động lực của sự phát triển xã hội, ta cần vui vẻ chấp nhận và thích nghi.

          Với tốc độ phát triển như vũ bão của nền khoa học, đặc biệt khoa học trí tuệ nhân tạo với sự bùng nổ của cách mạng thông tin, của thời đại công nghệ cao sẽ đưa chúng ta tiến đến nền văn minh mới của xã hội loài người-nền văn minh tri thức mà cốt lõi là nên kinh tế tri thức. Do đó buộc các trường ĐH, trung học và cả những trường công nhân kĩ thuật, trường dạy nghề đều phải tuyển đầu vào cao hơn, chặt chẽ hơn để nâng cao chất lượng đầu ra thì mới được xã hội chấp nhận. Bởi thế nếu các em không rất khẩn trương không thật nỗ lực học tập thì làm sao có thế đến được cổng các trường đó.

          Với cơ chế thị trường ngày càng khắc nghiệt, đến những việc lao động chân tay giản đơn đã ngày càng ít dần mà cũng còn phải qua tuyển chọn kỹ lượng mới được tiếp nhận làm việc (cứ nhìn những chợ lao động ở khắp nơi sẽ thấy rõ điều này) thì những công việc đòi hỏi có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, người ta càng tuyển chọn khắt khe hơn. Sự khắt khe đó thể hiện ở các yếu tố nào? Trước hết phải có bằng cấp (chế độ bằng cấp), kết quả quá trình học tập phải cao, phẩm chất đạo đức tốt và phải có những năng lực làm việc theo yêu cầu công viêc, có khả năng tổ chức quản lý năng đông, thích nghi, hòa nhập với tập thể cộng đồng. đặc biệt người ta phải quan tâm xem có ý chí nghị lực, có khả năng tiếp tục tự học tự bồi dưỡng về kiến thức và kinh nghiệm để không ngừng nâng cao năng lực làm việc không. Điều đó buộc chúng ta phải suy nghĩ: ngay từ bây giờ phải học thế nào, rèn luyện thế nào để mai sau ra trường có đủ điều kiện, đủ sức đủ tài , đủ bản lĩnh và năng lực không những có thế hòa nhập được với cuộc sống của cơ chế thị trường rất phức tạp nhưng cũng đầy hấp dẫn mà còn sẵn sàng tự lực vươn lên thích nghi với mọi thay đổi, mọi biến động của cuộc sống xã hội yêu cầu.

          Cũng đã qua cái thời cho rằng nguồn vốn, nguồn tài sản của bố mẹ để lại cho con cái như một dinh cơ vài gian nhà ngói, vài sào ruộng, một mảnh vườn hoặc thêm vài cây vàng là yên tâm có cuộc sống khá giả. Nguồn vốn đó, tài sản đó ngày nay không thể đảm bảo cuộc sống của mỗi con người. Và cho dù ông cha ta có để lại cho con cháu nhiều hơn thế nữa cũng không kịp với đòi hỏi gia tăng của cuộc sống mới đang phát triển ngày một nhanh. Ấy là chưa kể đến trong đời mỗi người có bao giờ phẳng lặng, suôn sẻ đâu thường có nhiều biến cố không lường, nhiều rủi ro bất trắc ập đến làm tiêu tan toàn bộ hoặc phần lớn tài sản đó như thiên tai, ốm dau, tai nạn…

          Như vậy cuộc sống của mỗi người phải được đảm bảo bằng cái khác chắc chắn hơn, bền vững hơn. Không có gì khác đó là trí tuệ là sự hiểu biết và những năng lực làm việc thực sự của mỗi con người. Cuộc đời của mỗi người là vinh hay nhục, cuộc sống của  mối người là sướng hay khổ, vất vả hay an nhàn, nghèo hèn hay khá giả, thành công hay thất bại đều không phải do trời ban phát , không phải do bố mẹ truyền lại , càng không phải do vận may đột xuất nào đưa đến, cũng không phải do cầu cúng lễ bái để có được mà là do kết quả của quá trình tích lũy những kiến thức, những hiểu biết, những kinh nghiệm và những năng lực làm việc thực sự của mỗi người. Trong đó yếu tố quyết định sự thành công của các quá trình phấn đấu đó là năng lực làm việc thực sự của mỗi người . Trong đó yếu tố quyết định sự thành công của các quá trình phấn đấu đó là năng lực tự thân vận đọng, tự chiến thắng chính mình, tự đào bới trong đầu mình để có suy nghĩ đúng, tự vượt khó để vươn lên, tự đứng dậy mỗi khi ngã để đi tiếp… tự điều chỉnh để thích nghi hòa nhập sống chung với mọi người. Nghĩa là không ai có thể làm thay ta được. Ta không thể có phép thần thông biến hóa, cho nên muốn có những năng lực đó chỉ có một cách duy nhất là tự rèn luyện mà thôi. 

          Kể cả khi một người thời học sinh học rất tốt, quá trình học ĐH cũng tốt, đã sáng chói 1 thời và đã được tuyển dụng vào một cơ quan danh giá với thu nhập khá cao. Nhưng nếu anh ta tự mãn yên ngủ trên vòng nguyệt quế quá khứ huy hoàng của mình không chịu tiếp tục học hỏi trau dồi để phát triển trong khi đòi hỏi của công việc của cuộc sống xã hội liên tục gia tăng thì chắc chắn chỉ sau một thời gian ngắn anh ta sẽ bị một người mà hôm qua chẳng là gì thậm chí kém cỏi hơn anh ta nhưng họ đang tích cực, lặng lẽ học tập, tích luỹ phát triển bản thân đến lúc vượt anh ta họ sẽ đứng vào thay thế anh ta, còn anh ta sẽ bị bật ra ngoài. Thời đại ngày nay là như vậy và nhịp độ cuộc sống ngày một nhanh hơn, sôi động hơn, sự lựa chọn của xã hội ngày một khắt khe và chính xác hơn. Điều đó buộc chúng ta phải rèn luyện tinh thần tự lực tự cường tinh thần dũng cảm không sợ khó, không sợ khổ; dám chấp nhận đương đầu với thử thách khó khăn; buộc chúng ta phải có ý chí nỗ lực vươn lên không ngừng. Nếu chúng ta dừng lại trong khi mọi người tiến lên nghĩa là chúng ta sẽ xuống dốc, sẽ tồi tệ. Với tầm quan trọng như vậy nên Thầy đã phải vất vả tìm mọi cách, tổ chức nhiều hình thức, tạo nhiều tình huống cho các em được rèn luyện được tập dượt năng lực tự đó càng nhiều càng tốt. Như chỉ đạo rất nghiêm các kỳ thi giai đoạn, dùng kết quả để điều chỉnh xếp lớp theo trình độ học lực, chi rất nhiều tiền thưởng cho học sinh đạt kết quả cao trong các kỳ thi, tổ chức cho học sinh nội trú và các lớp tự quản các hoạt động của mình, đưa ra các nội quy, quy định chặt chẽ…cho đến việc dầy công soạn thảo và hướng dẫn các phương pháp tự học, tự rèn luyện cho các em với mục đích tạo ra một môi trường tốt nhất, đồng bộ nhất có nhiều hình thức đa dạng phong phú, nhiều tình huống để các em được tập dượt khả năng tự lập. tự lực giải quyết các công việc, tự phấn đấu vươn lên, tự khắc phục các khó khăn, tự chịu trách nhiệm, tự vạch ra kế hoạch, mục tiêu cho mình…

          Thầy rất vui sướng và hạnh phúc khi đọc được trên nét mặt, ánh mắt những học trò yêu quý của Thầy biểu lộ sự đồng cảm đó và đặc biệt hạnh phúc hơn khi các em thể hiện sự tiếp thu đó qua những việc làm cụ thể. Ngược lại Thầy thật là buồn và đôi khi phát bực không hiểu vì sao nhiều em vẫn thờ ơ không chịu rèn luyện, không chịu phấn đấu cứ như là muốn đem bỏ mình đi: rất lười học, khi học thì không tập trung tư tưởng suy nghĩ vào bài, gặp vấn đề khó là bỏ chẳng cần hỏi han ai. Nhiều em vẫn cố tình vi phạm nội quy, cố tình đi ngược lại mục tiêu và quyền lợi của chính bản thân mình. Khi thi và kiểm tra một số em cố tình có thái độ sai, như vậy là các em tự lừa dối mình, dối thầy để rồi các em còn dốt cứ chồng chất lên ngày một nhiều. Đến khi đi thi không quay cóp được, hậu quả sẽ thế nào? Vả lại phàm những học sinh trông chờ ỷ lại vào quay cóp khi đi thi không bao giờ được điểm cao, quá lắm mặt dầy mày dạn chảo chớp thì ngoi lên được trung bình và may ra cũng chỉ được một môn. Mà thời buổi ngày nay không có trường ĐH, CĐ nào còn chỗ cho những học sinh như vậy. Thế thì trong lúc đang học đang cần tập luyện, ăn cắp của bạn vài điểm để lấy điểm cao có nghĩa gì? Được điểm như vậy có sung sướng không, có đẹp không, có thấy dằn vặt xấu hổ không? Ngoài ra các bạn sẽ nghĩ về mình thế nào?

          Các em phải nhớ: ý thức tự lực tự cường là chị em ruột với thật thà dũng cảm, là miền đất nảy sinh sự sáng tạo là chỗ dựa vững chắc của niềm tin. Nó còn là thước đo của lòng tự trọng, của phẩm giá con người. Các em hãy sống thật, nghĩ thật, làm thật, học thật, thi thật, và vươn lên bằng sức lực thật của mình. Hãy tập cảm nhận sự hạnh phúc, sung sướng với những thành quả do chính mình đạt được dù rất nhỏ, biết nâng niu quý trọng nó, biết phát huy cho nó lớn đẹp lên không ngừng. Từ đó sức sáng tạo của các em sẽ được khai mở và phát triển, dần dần các em sẽ thấy việc học tập thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Tinh thần sẽ phấn trấn thoải mái hơn. Đương nhiên kết quả học tập sẽ dần dần được nâng lên rõ rệt và các em sẽ thành công thành đạt.

          Các em hãy luôn suy nghĩ, hãy sống, làm việc và học tập theo lối con nhà nghèo, luôn thương yêu cha mẹ. Các em hãy nghĩ rằng: những điều kiện hiện tại, những gì mình đang có là đã đủ đã tốt. Mình đã được may mắm lắm rồi, không cần đòi hỏi gì hơn nữa. Mình sẽ không làm phiền đến ai nữa cả, sẽ tự phát huy tốt nhất những gì đang có để sống tốt, học tốt và rèn luyện tốt. Mình đang sẵn sàng đón nhận mọi khó khăn, dù khó khăn đến mức nào cũng không ảnh hưởng đến kết quả học tập. Những khó khăn đó càng làm cho mình có điều kiện khẳng định bản thân, được thể hiện bản lĩnh vững vàng kiên cường, thử sức mạnh dẻo dai, thử trí tuệ linh hoạt và sáng suốt mà thôi.

          Chính mình đang muốn và rất thích được thử thách như vậy. Mình quyết chí sẽ tự xây dựng lấy cuộc sống tương lai không cần đến những thứ của bố mẹ để lại. Bố mẹ sẽ hãnh diện về mình và mình sẽ làm gương cho các em phấn đấu tốt hơn, cho con mình sau này phấn đấu tốt hơn.

Trí Đức 15/2/2001

Bài viết khác